Đôi nét về UNESCO (16/11/1945)

16/11/1945 – UNESCO chính thức ra đời

—————-

 

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) được thành lập ngày 16/11/1945 với mục đích “Góp phần duy trì hoà bình và an ninh quốc tế bằng cách thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng của tất cả các nước về công lý, pháp luật, quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo mà Hiến chương Liên Hợp Quốc đã công nhận đối với tất cả các dân tộc”.

 

Những ngày lễ quốc tế có liên quan đến UNESCO:

21 tháng 2 : Ngày ngôn ngữ mẹ đẻ quốc tế

21 tháng 3 : Ngày thơ thế giới

23 tháng 4 : Ngày bản quyền và sách thế giới

3 tháng 5    : Ngày tự do báo chí thế giới

21 tháng 5 : Ngày phát triển văn hoá thế giới

23 tháng 8 : Ngày tưởng niệm quốc tế về buôn bán nô lệ

và thủ tiêu chế độ nô lệ

8 tháng 9    : Ngày xoá mù chữ quốc tế

5 tháng 10 : Ngày nhà giáo quốc tế

10 tháng 11          : Ngày khoa học thế giới về hoà bình và phát triển

16 tháng 11          : Ngày khoan dung thế giới

21 tháng 11          : Ngày triết học

 

Thập kỷ quốc tế được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố và những sự kiện liên quan đến UNESCO:

2005-2015 : Thập kỷ giáo dục cho phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc

2003-2012 : Thập kỷ xoá mù chữ của Liên Hợp Quốc

2001-2010 : Thập kỷ quốc tế thứ 2 về xoá bỏ chế độ thực dân

2001-2010  : Thập kỷ quốc tế về văn hoá hoà bình và phi bạo lực cho trẻ em

1997-2006  : Thập kỷ đầu tiên của Liên Hợp Quốc về xoá nghèo

1995-2004  : Thập kỷ Liên Hợp Quốc về giáo dục quyền con người

1994-2004  : Thập kỷ quốc tế về người dân bản xứ của thế giới

 

Năm 1951, Pháp đưa chính quyền Bảo Đại vào tham gia UNESCO. Sau đó chính quyền Sài Gòn duy trì sự có mặt tại UNESCO cho đến khi sụp đổ tháng 4/1975. Tháng 3/1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền nam Việt Nam tuyên bố kế thừa tham gia UNESCO. Sau khi thống nhất đất nước, ngày 12/7/1976, Bộ Ngoại giao nước ta gửi công hàm cho UNESCO thông báo Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kế tục tham gia UNESCO. Tháng 10/1976, với tư cách là thành viên chính thức của UNESCO, lần đầu tiên Chính phủ CHXHCN Việt Nam cử một đoàn đại biểu tham dự Đại hội đồng UNESCO lần thứ 19 tổ chức tại Nai-rô-bi (Kenya).

Ngày 15/6/1977, Chính phủ thành lập Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Ngoại giao, để đảm nhiệm việc thực hiện các nghĩa vụ, quyền hạn thành viên UNESCO của Việt Nam và thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước ta trong UNESCO. Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam có nhiệm vụ nghiên cứu và trình lên Thủ tướng Chính phủ các vấn đề về phương hướng, chính sách, chương trình và kế hoạch hoạt động của Việt Nam đối với UNESCO cũng như phối hợp và điều hoà hoạt động của các ngành có liên quan tới UNESCO. Từ năm 1978, Việt Nam đã cử Phái đoàn đại diện thường trực bên cạnh tổ chức UNESCO tại Paris và từ năm 1982 cử cấp đại sứ làm trưởng Phái đoàn.

Kể từ khi gia nhập UNESCO, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của UNESCO về ý tưởng, nhận thức và kinh nghiệm cũng như những đóng góp về tài chính và kỹ thuật ban đầu cho một số dự án của Việt Nam. Thời gian gần đây, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO có những bước phát triển mới cả về lượng và chất, đồng thời ngày càng thu được nhiều kết quả.

 

Công nhận các Di sản Việt Nam là Di sản Thế giới:

 

– Di sản văn hoá thế giới:

* Quần thể Di tích Cố đô Huế : Được ghi tên vào Danh mục các di sản thế giới vào năm 1993 theo hai tiêu chí (Ciii) là biểu trưng cho sự nổi bật về uy quyền của một đế chế phong kiến đã mất của Việt Nam vào thời kỳ hưng thịnh nhất của nó đầu thế kỷ 19 và (Civ) là một điển hình nổi bật của một kinh đô phong kiến phương Đông, gồm 16 hạng mục, trong đó đáng chú ý là hệ thống Cung điện trong Tử Cấm Thành, Hoàng Thành, Kinh Thành, các lăng tẩm, đàn Nam Giao, Văn Miếu, Võ Miếu, Chùa Thiên Mụ, Hồ Quyền…

* Khu Đô thị cổ Hội An : Được công nhận vào năm 1999 theo hai tiêu chí (Cii) là minh chứng vật chất nổi bật về sự giao lưu giữa các nền văn hóa trong lịch sử, và tiêu chí (Cv) là ví dụ điển hình về truyền thống định cư của loài người.

* Di tích Mỹ Sơn : Được công nhận vào năm 1999 theo tiêu chí (Cii) là một ví dụ điển hình về trao đổi văn hóa và tiêu chí (Ciii) là bằng chứng duy nhất của một nền văn minh ở Châu Á đã bị biến mất.

* Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long : Được Ủy ban Di sản Thế giới ra Nghị quyết công nhận tại kỳ họp thứ 34 tại Brasilia (thủ đô Brazil) theo giờ địa phương vào lúc 20h30 tức 6h30 ngày 01/8/2010 theo giờ Việt Nam. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: Chiều dài lịch sử văn hóa; Tính liên tục của tài sản với tư cách là một trung tâm quyền lực và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.

 

– Di sản thiên nhiên thế giới: 

* Vịnh Hạ Long : Được công nhận là di sản thế giới hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1994 theo tiêu chí (Niii) về giá trị cảnh quan và năm 2000 theo tiêu chí (Nii) về địa chất, địa mạo. Triển vọng Hạ Long tiếp tục được công nhận theo các tiêu chí khác (Đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa).

* Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng : Được công nhận vào năm 2003 theo tiêu chí (Ni) là một minh chứng về quá trình hình thành và phát triển của vỏ trái đất (hệ núi đá vôi Phong Nha-Kẻ Bàng nằm trong vùng địa máng Trường Sơn tiêu biểu nhất cho hệ đá vôi Cacbon-Pecmi. Đây là một trong những vùng Karst cổ rộng lớn, bị chia cắt mạnh và phát triển liên tục, được hình thành trên 400 triệu năm).

 

Di sản văn hoá phi vật thể:

* Nhã nhạc Cung đình Huế : được công nhận là Kiệt tác Văn hoá Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại năm 2003.

* Không gian Văn hoá Cồng Chiêng Tây Nguyên : được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể năm 2005.

 

Công nhận các khu dự trữ sinh quyển Việt Nam thuộc mạng lưới các Khu Sinh quyển Thế giới:

* Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh : được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2000. Khu này có tổng diện tích là 71.370 ha và dân số là 57.403 người.

* Khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên thuộc các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng và Đắc Lắc : được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2001. Khu này có tổng diện tích là 728.756 ha và dân số là 170.500 người.

* Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng : được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2004. Khu này có tổng diện tích là 26.241 ha và dân số là 10.673 người.

* Khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước ven biển liên tỉnh châu thổ sông Hồng thuộc 5 huyện: Thái Thụy, Tiền Hải (tỉnh Thái Bình), Giao Thủy, Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) : được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2004. Khu này có tổng diện tích là 105.557 ha và dân số là 128.675 người.

* Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang thuộc tỉnh Kiên Giang : được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2006. Khu này có tổng diện tích là 1.188.105 ha và dân số là 352.893 người.

 

 

* * * * *

Leave a comment

  • Liên hệ

    ĐC: 213 Lê Trọng Tấn, P.Sơn Kỳ, Q.Tân Phú, TPHCM
    ĐT: 0838 165 103
    Email: nhathieunhiquantanphu@gmail.com
    Website: nhathieunhiquantanphu.org
  • Nhà thiếu nhi quận Tân Phú TPHCM © 2015. Thiết kế bởi trung tâm tin học | Vải áo dài | tu mat cu | tu dong cu